Hạn chế tối đa các yếu tố gây bệnh tim mạch

14:15 |
Bỏ thuốc lá, đi bộ, bơi lội, dinh dưỡng hợp lý là các cách đơn giản giúp giảm nguy cơ gây bệnh tim mạch trong đó có bệnh mạch vành, tăng huyết áp, và tăng cholesterol máu. 

Ở các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ mắc bệnh mạch vành ở độ tuổi 30-39 là 0,9%, 50-59 tuổi trên 30% và trên 60 tuổi trên 50%, ở Việt Nam tỷ lệ bị bệnh mạch vành là 9,5%. Các yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành gồm hút thuốc lá, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, thiếu vận động, di truyền, giới tính, tuổi, và 3 yếu tố nguy cơ bổ sung là bệnh tiểu đường, béo phì, stress. 

Trong mười yếu tố đó, trừ các yếu tố di truyền, giới tính, tuổi tác, con người có thể tác động được vào 7 yếu tố còn lại để giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. 


Hút thuốc có liên quan đến hơn 30 bệnh khác nhau trong đó có bệnh ung thư, bệnh phổi và bệnh tim mạch. Người hút thuốc có nguy cơ bị mắc bệnh mạch vành cao hơn gấp hai lần so với người không hút thuốc, hút thuốc được coi là yếu tố nguy cơ lớn nhất gây bệnh mạch vành, của đột tử do tim. 

Bỏ hút thuốc là cách quan trọng để giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Nếu bạn không hút thuốc thì đừng bao giờ hút, nếu bạn hút thuốc thì hãy bỏ ngay. Đáng tiếc rằng đối với nhiều người, thói quen hút thuốc rất khó từ bỏ. 

Tăng huyết áp có thể được điều chỉnh bằng cách dùng thuốc. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp có thể giảm huyết áp bằng việc tập luyện rèn sức bền thường xuyên với các bài tập: đi bộ nhanh, chạy việt dã, đạp xe, bơi và chế độ ăn uống hợp lý định hướng giảm cân (giảm chất béo, ăn nhạt, ăn nhiều rau, hoa quả). 

Tăng cholesterol máu có thể được điều chỉnh bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, tập luyện thể dục thể thao và dùng thuốc. Cách đơn giản nhất là giảm cholesterol máu nhờ tập luyện thể dục thể thao kết hợp ăn uống hợp lý, hạn chế tối đa sử dụng các thức ăn có chứa nhiều cholesterol như trứng, thịt mỡ, giò, xúc xích, dầu dừa, dầu cọ..., sử dụng nhiều thức ăn có chứa vitamin E, vitamin C và beta caroten. 

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, các vitamin này có tác dụng chống lão hóa, giảm xơ vữa động mạch. Không nên ăn quá 3 quả trứng/tuần và phải cách ngày (trong 1 quả trứng đã chứa đủ nhu cầu về cholesterol của cơ thể trong ngày - 250mg), thay ăn thịt bằng cá. 

Ăn cá rất tốt cho sức khỏe, cá không những là nguồn cung cấp chất đạm quý giá, mà còn cung cấp cho cơ thể các vitamin A, D, E, B12, B6, đặc biệt là trong mỡ cá có rất nhiều axit béo omega-3 có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol máu, cản trở phát triển xơ vữa động mạch, nuôi dưỡng não, cải thiện thị lực (axit béo omega-3 đặc biệt có nhiều trong cá thu, cá ngừ, cá trích, cá hồi). 

Cuộc sống tĩnh tại ít vận động: Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, chủ yếu với các bài tập rèn sức bền như đi bộ nhanh, chạy bước nhỏ, đạp xe đạp, bơi với liều lượng hợp lý và tập thường xuyên làm giảm đáng kể nguy cơ bị mắc bệnh mạch vành. 

Trong một nghiên cứu ở Mỹ thấy rằng, chỉ cần đi bộ nhanh 20-30 phút/buổi, với tần số 3-5 buổi/tuần đã có hiệu quả tốt giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Tập luyện thể dục thể thao rèn sức bền thường xuyên còn ảnh hưởng đến các yếu tố nguy cơ khác của bệnh mạch vành như giảm huyết áp, giảm hàm lượng cholesterol xấu, tăng hàm lượng cholesterol có ích và giảm cân. 

Kiểm soát béo mập, đái tháo đường và stress: Với chế độ ăn giảm calo và giảm chất béo, tăng cường ăn các loại rau quả có chứa các vitamin - antioxidant như: C, E và beta- caroten, kết hợp tập thể dục thể thao rèn sức bền thường xuyên (đặc biệt là đi bộ nhanh, chạy cự ly dài) sẽ giúp cho cơ thể giảm đáng kể lượng mỡ thừa - giảm cân. 

Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên còn giảm nguy cơ phát triển bệnh đái tháo đường týp II, giảm các yếu tố gây xơ vữa động mạch, giảm cân ở những người bị thừa cân; điều hòa lượng đường glucose trong máu do cải thiện khả năng sử dụng glucose của hệ thống cơ bắp. 

Để kiểm soát ảnh hưởng của stress đối với cơ thể, mỗi chúng ta cần biết cách giảm các nguồn gây stress, điều hòa cuộc sống, và sử dụng các kỹ thuật thư giãn như các bài tập thở, tăng thời gian ngủ nghỉ, tập luyện thể dục thể thao, đi du lịch, thăm thú bạn bè... 

Nguy cơ mắc bệnh tim mạch nói chung và bệnh mạch vành nói riêng có thể được kiểm soát bằng cách tác động lên các yếu tố nguy cơ sau: hút thuốc, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, cuộc sống tĩnh tại ít vận động, bệnh tiểu đường, béo mập, stress nhờ dùng thuốc, chế độ ăn uống hợp lý, tập luyện thể dục thể thao rèn sức bền thường xuyên với liều lượng phù hợp, hạn chế các thói quen có hại, biết cách kiểm soát stress và tạo cho bản thân một cuộc sống thanh thản. 


TS. Đặng Quốc Bảo
Click đọc ngay…

Cách chăm sóc người bị tai biến mạch máu não

04:30 |
Đột quỵ hay còn gọi là tai biến mạch máu não (TBMMN) là tình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi dưỡng do tắc hoặc vỡ mạch máu não. 

Khi thiếu máu lên não, các tế bào não sẽ ngưng hoạt động và sẽ chết đi trong vài phút. Hậu quả là các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ ngưng hoạt động, dẫn tới yếu liệt, tê mất cảm giác nửa người, thậm chí hôn mê… Do vậy, chăm sóc sau đột quỵ là việc làm vô cùng quan trọng giúp người bệnh có thể bình phục và phòng tránh tái phát. 

Nguyên nhân gây đột quỵ 


Mạch máu não bị tắc do mảng xơ mỡ đóng ở thành mạch dày lên dần, làm hẹp lòng mạch; Xuất hiện cục máu đông di chuyển từ tim do tim bị bệnh loạn nhịp hoặc bệnh hẹp - hở van tim khiến máu ứ lại, đóng thành cục máu đông trong tim, sau đó chảy lên não làm kẹt lại gây tắc mạch máu não; Xuất huyết não (mạch máu bị vỡ làm chảy máu, chèn ép não bộ) và xuất huyết khoang dưới nhện (mạch máu bị phình rồi vỡ ra làm máu chảy vào khoang trống bao quanh não) cũng là nguyên nhân dẫn đến đột quỵ. 

Người cao tuổi, người bị tăng huyết áp, đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu, các bệnh mạch vành, van tim, loạn nhịp tim, hút thuốc lá, béo phì-thừa cân, lười vận động… là những đối tượng dễ bị đột quỵ. 

Nếu thấy người bệnh có dấu hiệu ngã thì cần đỡ họ ngay tránh để họ bị va đập, sau đó để bệnh nhân nằm nghiêng qua một bên, nếu có nôn thì móc hết đờm dãi khai thông đường thở. Sau đó đưa ngay đến cơ sở y tế càng nhanh càng tốt, không nên xoa dầu cao hay tự ý cho bệnh nhân dùng thuốc. 

Giúp bệnh nhân phục hồi bằng chế độ ăn và tập luyện hợp lý 

Cần cho bệnh nhân ăn đủ chất nhưng với một lượng thích hợp. Nên chọn thực phẩm ít cholesterol và nhiều đạm thực vật (đậu đỗ, đậu tương, đậu phụ) và đạm động vật (cá biển, cá đồng, sữa, thịt nạc...). Lượng protein cần giữ ở mức 0,8g/kg cân nặng/ngày. Chất béo nên giữ ở mức 25-30g/ngày. 

Bổ sung lượng vitamin và chất khoáng có trong các loại hoa quả chín, rau củ, sữa. Bổ sung axit folic ít nhất 300mcg mỗi ngày sẽ làm giảm 20% nguy cơ đột quỵ và 13% nguy cơ bệnh tim bằng cách ăn các loại quả có vị chua, rau lá xanh, các loại đậu, gạo... Thức ăn phải dễ tiêu hóa, hấp thu và ở dạng mềm, lỏng như súp, cháo, sữa. Cần phân bố đều 3-4 bữa/ngày, không nên ăn quá no. 

Tránh dùng thức ăn lên men, gây kích thích như gia vị cay, nóng, rượu, chè, cà phê…; Giảm muối và nước. Tránh các loại thức ăn chế biến sẵn nhiều muối như dưa, cà, hành muối, bánh mỳ, thịt hun khói… Tránh tăng cân. 

Cần đổi tư thế nằm của bệnh nhân mỗi giờ để chống loét. Xoa bóp bắp cơ, vận động các khớp tay và chân cho bệnh nhân để máu lưu thông và tránh cứng khớp, teo cơ. Tập vận động để giúp hồi phục nhanh. 

Sau khi xuất viện, tập vận động tại nhà hoặc có thầy thuốc chuyên khoa vật lý trị liệu hướng dẫn. Cố gắng cho bệnh nhân tự làm các hoạt động sinh hoạt hàng ngày với sự trợ giúp của thân nhân để có thể hồi phục sớm. Và đặc biệt, bệnh nhân cần uống thuốc đầy đủ theo chỉ dẫn của bác sĩ và tái khám đúng hẹn. 


BS. Trần Văn Thành
Click đọc ngay…

Aspirin có thể phòng ngừa được tất cả các biến cố tim mạch

15:40 |
Aspirin được phát hiện từ hơn 100 năm và là thuốc được dùng chủ yếu để giảm đau và chống viêm. Ngày nay, aspirin với liều thấp còn được sử dụng rất rộng rãi trong việc phòng ngừa các biến cố tim mạch (bệnh động mạch vành và tai biến mạch não) ở những bệnh nhân có nguy cơ cao về bệnh tim mạch hoặc đã bị các biến cố tim mạch. 

Theo các kết quả nghiên cứu, mỗi năm aspirin có thể cứu sống hàng triệu người có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và tai biến mạch não. Thuốc cũng giảm khả năng tái phát ở những người bệnh đã có tiền sử bệnh tim mạch và đột quỵ cũ. 



Các Hội Tim mạch trên thế giới đều khuyến cáo các bác sĩ kê aspirin cho những bệnh nhân thuộc nhóm bệnh này. Thực tế, việc sử dụng aspirin không phải là tuyệt đối an toàn. Do đó, bạn và bác sĩ của bạn cần cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ khi dùng thuốc. 

Những yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc điều trị bằng aspirin bao gồm: đang có bệnh lý gan hoặc thận, viêm loét dạ dày, bệnh đường tiêu hoá khác hoặc có xuất huyết tiêu hoá, có những bệnh lý khác về chảy máu, dị ứng với aspirin, uống rượu... 

Tác dụng phòng ngừa của aspirin 

Xơ vữa động mạch ngày càng phổ biến. Đây là hậu quả của quá trình tích đọng chất mỡ, cholesterol, các sản phẩm chuyển hoá tế bào, calci, và những chất khác ở lớp áo trong của động mạch. Kết quả là sẽ hình thành mảng xơ vữa. 

Mảng xơ vữa thường gây tổn thương ở các mạch máu kích cỡ lớn và trung bình. Mảng xơ vữa có thể phát triển đủ lớn để hạn chế đáng kể dòng máu lưu chuyển trong động mạch dẫn đến thiếu máu nuôi dưỡng cơ tim vùng phía sau và gọi là đau thắt ngực ổn định. 

Tuy nhiên, có trường hợp tệ nhất là khi mảng xơ vữa này vỡ ra và kích thích hình thành cục máu đông. Cục máu đông có thể gây bít tắc hoàn toàn lòng mạch, hoặc bong ra và trôi đến một vùng nào đó của cơ thể. 

Khi cục máu đông gây tắc mạch máu nuôi tim, sẽ gây ra cơn đau tim cấp (hay thường gọi là nhồi máu cơ tim). Còn khi gây tắc mạch máu nuôi não, sẽ là cơn tai biến mạch não. Đây là những bệnh nặng, có thể dẫn đến chết người hoặc để lại những hậu quả nghiêm trọng (tàn phế) nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. 

Vấn đề phòng ngừa, không để xảy ra các biến cố này mới là điều quan trọng. Aspirin thực chất là một chất giảm viêm chống đau và trước đây được chỉ định chủ yếu cho bệnh nhân bị đau, viêm khớp nhưng với liều cao. 

Sau này người ta phát hiện thấy aspirin với liều thấp có thể ức chế sự ngưng kết tiểu cầu, là một loại tế bào máu có vai trò quan trọng trong việc hình thành cục máu đông. Do vậy, aspirin có thể giảm khả năng hình thành cục máu đông trong lòng mạch máu và tim nhờ đó ngăn ngừa được các biến cố tim mạch và đột quỵ. 

Đối với bệnh tim mạch

Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 16 triệu người chết vì bệnh tim mạch (trong đó chủ yếu là do nhồi máu cơ tim). Tại Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 1,2 triệu người mắc bệnh động mạch vành. Trong số đó, gần 500.000 người đã tử vong. Thực tế, bệnh động mạch vành là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Mỹ. 

Cơn đau tim xuất hiện khi một vùng cơ tim bị tổn thương hay hoại tử do đột ngột thiếu máu nuôi dưỡng, hoặc hoàn toàn không được tưới máu. Tình trạng này thường xuất hiện khi một mảng xơ vữa vỡ ra và cục máu đông hình thành. Cục máu đông sẽ gây bít tắc động mạch cung cấp ôxy và dinh dưỡng nuôi cơ tim. 

Những người có nguy cơ đau thắt ngực cần được điều trị bằng aspirin liều thấp hàng ngày nếu có chỉ định của thầy thuốc. Điều này sẽ giúp ngăn ngừa các cơn đau ngực. Aspirin cũng có vai trò quan trọng khi bệnh nhân đang lên cơn đau tim. 

Trên thực tế, người bệnh thường được cho uống aspirin khi đang trên xe cấp cứu, hoặc khi ở phòng khám cấp cứu bệnh viện. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc sử dụng aspirin khi bắt đầu có triệu chứng sẽ cải thiện đáng kể khả năng sống sót của bệnh nhân. 

Đối với những bệnh nhân sống sót sau cơn đau tim, aspirin liều thấp nên được dùng đều đặn. Nhờ tác dụng chống đông máu, aspirin giúp ngăn ngừa các cơn đau tim tái phát. Liều dùng mỗi ngày thường từ 75 đến 162 mg. 



Với tai biến máu não 

Mỗi năm, trên thế giới lại cũng có khoảng gần 20 triệu người bệnh bị tai biến mạch não. Riêng Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 700.000 người bị tai biến mạch máu não. Gần 163.000 người trong số đó tử vong, khiến tai biến mạch não trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba. Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế. 

Cơn tai biến mạch máu não xuất hiện khi một động mạch cấp máu nuôi não bị vỡ gây chảy máu (15-20%) hoặc bít tắc gây tắc mạch (80-85%). Khi những tế bào não tổn thương do thiếu máu và ôxy, bệnh nhân có thể bị liệt và rối loạn thị giác, cảm giác, cũng như chức năng nói. 

Tai biến mạch não thường gây hậu quả rất nặng nề, do đó việc giảm nguy cơ mắc bệnh và hiểu biết rõ các dấu hiệu nguy hiểm là rất quan trọng. Những dấu hiệu này được liệt kê ở phần cuối bài này. 

Aspirin có thể giúp ngăn ngừa nhồi máu não ở những bệnh nhân có tiền sử tai biến mạch não thoáng qua, hoặc những người vừa xuất hiện thiếu máu não (do nhồi máu não). Nguyên nhân dẫn đến nhồi máu não là do mảng xơ vữa trong động mạch vỡ ra, hình thành cục máu đông và gây bít tắc dòng máu. 

Aspirin cũng là thuốc được khuyên dùng nếu bạn đã bị tai biến mạch não thoáng qua hoặc thiếu máu não cục bộ, với sự đồng thuận của bác sĩ điều trị. 

Đối với bệnh nhân bị rung nhĩ 

Rung nhĩ là tình trạng hai tâm nhĩ rung lên thay vì co bóp như thông thường. Máu không được tống hết khỏi tâm nhĩ, do đó sẽ ứ trệ trong buồng nhĩ và đông lại. Trên thực tế, khoảng 15-20% những ca tai biến mạch não xuất hiện ở các bệnh nhân rung nhĩ. 

Vấn đề của bệnh rung nhĩ nằm ở chỗ: cục máu đông hình thành trong tâm nhĩ có thể đi vào hệ thống tuần hoàn và cuối cùng kẹt lại trong một mạch máu nhỏ trên não. Aspirin chống hình thành cục máu đông, do đó cũng có thể giảm nguy cơ đột quỵ ở các bệnh nhân rung nhĩ. 

Tuy nhiên, đối với rung nhĩ, thuốc hàng đầu trong điều trị là thuốc chống đông đường uống (các thuốc kháng vitamin K hay dẫn xuất của coumadine). Không được dùng aspirin ngay trong cơn tai biến mạch não khi chưa xác định rõ là bị chảy máu hay tắc mạch. Chỉ dùng aspirin khi chắc chắn là nhồi máu não (tắc mạch não) và không có chảy máu trong não (xuất huyết não). 

Có nên dùng aspirin cho mọi trường hợp? 

Đã có một số thử nghiệm lớn trên lâm sàng về việc dùng aspirin trong ngăn ngừa từ sớm các biến cố tim mạch cho những người không có yếu tố nguy cơ tim mạch. Kết quả của các nghiên cứu này chưa chứng minh được lợi ích của aspirin cho mọi người. 

Trong một số trường hợp, nguy cơ gây chảy máu hoặc các tai biến khác liên quan dùng aspirin không thấp hơn lợi ích bảo vệ mà nó mang lại. Do vậy, hiện nay aspirin không được khuyến cáo dùng một cách rộng rãi nhằm mục đích phòng ngừa các biến cố tim mạch cho mọi người. 

Bạn cần làm gì? 

Giờ đây khi đã có kiến thức về aspirin, bệnh tim mạch, và tai biến mạch máu não, những việc bạn cần làm là: 

Nếu được bác sĩ chỉ định dùng aspirin, bạn nên dùng thuốc liên tục và đều đặn. Bên cạnh đó, cần biết rõ các tác dụng phụ của thuốc. Những tác dụng phụ nghiêm trọng có thể xuất hiện khi bạn tự điều trị. Nếu gặp bất cứ tác dụng không mong muốn nào, hãy đi khám bác sĩ ngay lập tức. Đảm bảo rằng bạn đã thông báo cho bác sĩ tất cả các thuốc, hay vitamin mình đang sử dụng. Chúng có thể ảnh hưởng đến việc điều trị aspirin của bạn. 

Cùng bác sĩ đánh giá lại việc điều trị aspirin nếu bạn sắp phải phẫu thuật (ngay cả những phẫu thuật nhỏ). Aspirin tác động tới quá trình đông máu và có thể tăng thời gian chảy máu. Tác dụng của aspirin vẫn kéo dài đến ngày thứ 10 sau khi ngừng thuốc. 

Duy trì một lối sống tốt. Không hút thuốc lá, kiểm soát huyết áp nếu có tăng huyết áp, tuân theo chế độ ăn ít chất béo và cholesterol và giữ nồng độ cholesterol ở mức cho phép. Vận động thể chất đều đặn (tổng cộng tối thiểu 30 phút một ngày, tất cả các ngày trong tuần) và giảm cân nếu có tăng cân. Cuối cùng, kiểm soát bệnh tiểu đường nếu có. 

Dùng aspirin không thể thay thế cho những thói quen giữ gìn sức khoẻ. Nắm vững những dấu hiệu cảnh báo của cơn đau tim và cơn tai biến mạch máu não để có hành động kịp thời. 

Hiện nay, nhiều loại thuốc có nguồn gốc từ thảo dược được quảng cáo có tác dụng chống hình thành cục máu đông, hoặc có thể làm tiêu hủy cục máu đông và khuyên dùng cho các trường hợp bị bệnh mạch vành và nhồi máu não. 

Tuy nhiên, các thuốc này còn thiếu bằng chứng khoa học về lợi ích phòng ngừa tắc mạch, hơn nữa chưa được quốc tế chấp nhận. Do vậy, người bệnh không tự động uống thêm các thuốc trên, đặc biệt là cho rằng có thể thay thế aspirin. Bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa. 


ThS. Đinh Huỳnh Linh
Click đọc ngay…

Nguy cơ hại tim do vận động mồ hôi ròng ròng

08:53 |
Theo PGS .TS Phạm Mạnh Hùng (Tổng Thư ký Hội Tim mạch học Việt Nam), tập thể dục đúng cách là một trong những biện pháp hữu hiệu phòng ngừa các bệnh lý tim mạch nguy hiểm. Nhưng những người tập gym, chạy bộ, erobic… quá sức, đổ mồ hôi nhiều đến mức đồ tập “vắt” ra nước sẽ gây hại cho tim mạch. 

Thống kê của Tổ chức Y tế thế giới cho thấy bệnh tim đã cướp đi cuộc sống của 17,5 triệu người mỗi năm và dự báo tăng lên 23 triệu người vào năm 2030. Nguyên nhân gia tăng bệnh lý tim mạch là do ảnh hưởng của lối sống, ăn uống nhiều, hút thuốc, uống rượu và lười vận động. 



Tuy là bệnh lý nguy hiểm nhưng tim mạch lại hoàn toàn có thể phòng ngừa. “Vận động là một trong những biện pháp thể lực giúp giảm nguy cơ bệnh lý tim mạch. Vì vận động giảm mỡ máu, giảm dung nạp đường huyết, tăng sức chịu đựng của cơ tim…”, TS Hùng nói. 

Tuy nhiên, vận động thế nào cho đúng, để tốt cho tim mạch còn là vấn đề bàn cãi. Bởi vận động nhiều quá, quá sức lại là yếu tố gây hại cho tim mạch. TS Hùng cho biết, tại hội nghị tim mạch lớn nhất ở châu Âu mới đây, các nhà khoa học cũng đưa ra bằng chứng cho rằng những người vận động quá mức, như chạy marathon, vận động viên có nguy cơ đột tử cao hơn những người vận động bình thường. 

Vì thế, các chuyên gia tim mạch đưa ra thông điệp “Tập thể dục tim phổi” - dựa trên khả năng của mỗi người. Theo đó, tập thể dục để tốt nhất cho tim mạch là vận động ở cường độ vừa đến mạnh chứ không quá mạnh. Lúc này, cơ thể vừa đủ sức chịu đựng, hơi vã mồ hôi nhẹ là vận động tốt nhất cho tim phổi. Còn tập đến mức mồ hôi vã ra ròng ròng, đồ tập “vắt” ra nước lại vô tình tăng gánh nặng cho tim mạch. 

Các chuyên gia tim mạch trên thế giới cũng khuyến cáo thời gian vận động là nên vận động hàng ngày từ 30 - 60 phút. Phương pháp đi bộ nhanh, hoặc bơi, tập erobic (với cường độ vừa phải), hay tập yoga là những biện pháp được khuyến khích tốt nhất cho tim mạch. 

Đặc biệt, đi bộ nhanh là một trong những phương pháp tập luyện tốt nhất cho tim mạch. Nhưng nhớ đừng đi bộ “nhàn nhã” như đi dạo với một người bạn vì nó sẽ mang hiệu quả thấp. Tập luyện phải đạt cường độ vừa đến mạnh như nói ở trên thì mới tốt cho tim mạch. Còn đi bộ “nhàn nhã” chỉ mang tính thư giãn”, TS Hùng nói. 

Theo đó, hãy đi bộ nhanh, khi bạn thấy rất khó để theo kịp một cuộc trò chuyện ổn định là tốc độ thích hợp. Khi đi bộ, từ bắp chân, mông đến toàn bộ cơ thể đều được vận động, sẽ rất lợi cho hệ tim mạch. 

TS Hùng cũng khuyến cáo, bệnh lý tim mạch có thể xảy ra ở bất cứ ai và ngày càng trẻ hóa. Vì thế, hãy duy trì một thói quen sinh hoạt lành mạnh bằng cách hạn chế hút thuốc, không ăn nhiều đồ mỡ, ăn nhiều rau xanh, trái cây, đi khám sức khỏe định kỳ để phòng bệnh lý tim mạch nguy hiểm. Đặc biệt hãy duy trì chế độ vận động mỗi ngày như khuyến cáo trên sẽ giúp phòng bệnh tim mạch một cách hữu hiệu.
Click đọc ngay…

Ai có nguy cơ mắc mỡ máu cao?

11:44 |
Tình trạng rối loạn lipid máu ( dân gian hay gọi là mỡ máu cao) thể hỗn hợp bao gồm vừa tăng cholesterol và triglycerid đang trở nên ngày một phổ biến trên mọi đối tượng. 

Nếu như trước đây, người ta chỉ đề cập đến rối loạn này ở tuổi từ 60 trở lên thì hiện nay, ngay từ tuổi trên 30 đã nhiều người mắc bệnh. Nguy cơ nguy hiểm nhất của bệnh là các biến chứng tim mạch và thúc đẩy các rối loạn chuyển hoá khác. 



Việc điều trị bao gồm phương pháp không dùng thuốc là thay đổi lối sống và sử dụng một số thuốc đặc trị. Nhưng nói chung, rối loạn lipid máu là bệnh mạn tính đòi hỏi phải điều trị lâu dài. 

Đối với người bình thường, chỉ số cholesterol ở mức dưới 5,2mmol/l; triglycerid dưới 2,3mmol/l. Nếu vượt quá từng giới hạn này sẽ dẫn đến rối loạn lipid máu( dân gian gọi là mỡ nhiễm máu) và vượt qua cả hai thì mắc phải chứng rối loạn lipid máu thể hỗn hợp. 

Ăn quá nhiều chất béo bão hòa là nguyên nhân chủ yếu gây tăng cholesterol máu. Các chất béo bão hòa có trong các thức ăn có mỡ, đặc biệt là sữa và các sản phẩm từ sữa, thịt mỡ, bơ, hai loại dầu thực vật là dầu dừa và dầu cọ, hầu hết các loại thức ăn rán, các loại bánh như bánh bích quy và ga tô... 

Thừa cân (béo phì), uống nhiều rượu và ăn nhiều thức ăn có chứa chất béo sẽ làm tăng lượng triglycerid trong máu. 

Uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ bị các bệnh tim mạch như bệnh động mạch vành, đột quỵ do làm tăng lượng triglyceride trong máu và làm tăng huyết áp. Không nên uống quá 20 - 30g ethanol/ngày đối với nam giới và 10 - 20g ethanol/ngày với nữ giới. Uống rượu với lượng vừa phải (đặc biệt là rượu vang đỏ) có tác dụng bảo vệ tim do làm tăng lượng HDL-C và tác dụng chống ôxy hóa. 

Khoảng dưới 10% trường hợp bị rối loạn lipid máu thứ phát do các nguyên nhân như: đái tháo đường; hội chứng thận hư; tăng urê máu; suy tuyến giáp; bệnh gan; nghiện rượu; uống thuốc tránh thai; một số thuốc tim mạch như: thuốc ức chế bêta giao cảm, nhóm thuốc lợi tiểu thiazide. 


BS. Quang Anh
Click đọc ngay…

Nguyên tắc vàng phòng chống mỡ máu cao

00:16 |
Người bị mỡ máu cao đang trẻ hóa vì thói quen dinh dưỡng không hợp lý mà hậu quả dẫn đến các bệnh tim mạch, tăng huyết áp... Ở tuổi trung niên, phần đông mọi người đều bị chứng mỡ máu cao. 

Các khảo sát gần đây còn cho biết, người bị mỡ máu cao đang trẻ hóa vì thói quen dinh dưỡng không hợp lý mà hậu quả dẫn đến các bệnh tim mạch, tăng huyết áp... 

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phòng tránh được mỡ máu cao? Xin bật mí với bạn là có một nguyên tắc gọi là “2 giảm 3 tăng” để giải quyết vấn đề nan giải này. 



Hai giảm 

Giảm chỉ số BMI: Giảm tổng năng lượng ăn vào trong ngày để giảm cân sao cho chỉ số BMI của bạn thích hợp. Chỉ số BMI = cân nặng (kg)/chiều cao (m) x chiều cao (m). 

Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trừ người có thai, nếu BMI dưới 18,5 là thiếu cân, thiếu dinh dưỡng; từ 18,5 - 24,99 là bình thường; từ 25 - 29,99 là thừa cân; từ 30 trở lên là béo phì. 

Nếu bị thừa cân, béo phì, bạn phải giảm năng lượng của khẩu phần ăn từ từ, mỗi tuần giảm khoảng 30kcal so với khẩu phần ăn của bạn, cho đến khi đạt năng lượng tương ứng với mức BMI. Cần theo dõi cân nặng và BMI để điều chỉnh tổng lượng calo hàng tháng hoặc hàng quý, đề phòng giảm cân quá nhanh hoặc quá nhiều sẽ gây mệt mỏi, suy nhược. 

Bạn có thể áp dụng theo chỉ số dưới đây: Nếu BMI từ 25 - 29,9, năng lượng đưa vào là 1.500kcal/ngày; BMI từ 30 - 34,9, năng lượng đưa vào là 1.200kcal/ngày; BMI từ 35 - 39,9, năng lượng đưa vào là 1.000kcal/ngày; BMI từ 40 trở lên, năng lượng đưa vào là 800kcal/ngày. 

Giảm lượng chất béo: Theo đó, chất béo chỉ nên chiếm 15 - 20% tổng năng lượng ăn vào, tốt nhất với tỷ lệ sau: chất béo no chiếm 1/3 tổng số chất béo; 1/3 là axít béo chưa no nhiều nối đôi; 1/3 còn lại là axít béo chưa no một nối đôi.

Bạn nên dùng dầu thực vật thay cho mỡ động vật. Nên ăn dầu vừng, lạc, hạt dẻ, hạt bí ngô để cung cấp các axít béo không no có nhiều nối đôi như omega-3, omega-6. Bạn rất nên bổ sung dầu cá thiên nhiên vì chứa nhiều axít béo chưa no. 

Hạn chế hoặc không ăn các thức ăn nhiều axít béo no như mỡ, bơ, nước luộc thịt. Giảm lượng cholesterol dưới 250mg/ngày bằng cách không ăn các thức ăn có nhiều cholesterol như: não, bầu dục bò, bầu dục lợn, gan lợn, gan gà. 

Bạn cũng cần lưu ý rằng: lòng đỏ trứng có nhiều cholesterol, nhưng cũng có nhiều lecithin là một chất điều hòa chuyển hoá cholesterol trong cơ thể, do đó, bạn không nhất thiết phải kiêng hẳn trứng mà chỉ nên ăn trứng 1 - 2 quả/tuần. 



Ba tăng 

Tăng lượng đạm (protein): Bạn nên ăn thịt nạc như: thịt bò, thịt gà vịt bỏ da, thịt lợn thăn, cá, đậu. Bạn cũng nên ăn các sản phẩm được chế biến từ đậu nành như sữa đậu nành, đậu phụ, tào phớ, bột đậu tương, sữa chua đậu tương... vì sản phẩm làm từ đậu tương chứa nhiều estrogen thực vật hoặc isoflavon làm giảm đáng kể nồng độ cholesterol toàn phần, cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp và triglycerid (là những thành phần làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch). 

Tăng các axít béo chưa no có nhiều nối đôi: Nhiều nghiên cứu cho thấy, chế độ ăn ít axít béo no, nhiều axít béo chưa no có nhiều nối đôi rất hiệu quả trong việc giảm cholesterol máu. 

Các nghiên cứu đã chứng minh vai trò tích cực của các loại axit béo omega-3 và omega-6 đối với giảm cholesterol máu và phòng chống các bệnh tim mạch. Cá, dầu cá chứa nhiều axít béo omega-3, DHA, dầu thực vật chứa nhiều axít béo omega-6 không những làm giảm cholesterol mà còn có tác dụng tốt để phòng bệnh loạn nhịp tim, huyết khối và góp phần điều chỉnh huyết áp. Do đó, để giảm cholesterol máu, bạn nên ăn cá 2 - 3 lần/tuần, sử dụng dầu thực vật khi chế biến món ăn. 

Tăng lượng chất xơ: Chất xơ có công dụng loại bỏ cholesterol và các chất độc hại ra khỏi cơ thể. Vì vậy, bữa ăn hằng ngày của bạn nhất thiết phải có rau, quả tươi. Bạn nên ăn phối hợp nhiều loại rau, củ, quả. 

Nếu bị tăng huyết áp hay cholesterol cao, bạn càng phải ăn nhiều rau, quả tươi hơn để bổ sung các vitamin, đặc biệt là kali giúp làm hạ huyết áp và chất xơ giúp làm giảm cholesterol máu. 


ThS. Phạm Phú Vinh
Click đọc ngay…